Tiềm năng, lợi thế đầu tư
  

Vị trí chiến lược

- Từng là thủ phủ của xứ Đàng Trong, là kinh đô, “phên dậu thứ tư về phương Nam của Đại Việt” thời Quang Trung – Nguyễn Huệ và là kinh đô của triều Nguyễn – triều đại phong kiến cuối cùng của Việt Nam, với đường bờ biển dài 128 km, 86 km đường biên giới với CNDCND Lào. 

- Nằm trên Hành lang kinh tế Đông – Tây nối với Lào, Thái Lan và Myanmar, là cửa ngỏ ra biển Đông của hành lang kinh tế quan trọng này;

- Trung tâm của con đường di sản Huế –Phong Nha Kẻ Bàng– Đà Nẵng – Hội An, trung tâm của con đường di sản Việt Nam: Hạ Long – Phong Nha – Huế - Hội An – Mỹ Sơn – đường mòn Hồ Chí Minh.

 

 

Kinh đô xưa được bảo tồn nguyên vẹn trong lòng đô thị với những giá trị văn hóa vật thể và phi vật thể vô giá

Là địa phương duy nhất ở Việt Nam tự hào với danh hiệu “một điểm đến năm di sản”.

Kinh đô xưa với những công trình di sản văn hóa, di tích lịch sử được bảo tồn nguyên vẹn trong một không gian sống xanh, sinh thái lý tưởng được bao bọc bởi thiên nhiên kỳ vỹ, đa dạng và dòng sông Hương trong xanh hiếm có trên thế giới.

(đưa vào sản phẩm của Thái Y Viện gồm trà, rượu…)

Tài nguyên thiên nhiên, tài nguyên văn hóa phong phú để khai phá

Thừa Thiên Huế là một địa phương hội tụ tất cả các điều kiện cần và đủ để khai thác du lịch. Có sông Hương, núi Ngự ngay trong lòng thành phố tạo nên phong cảnh hữu tình đẹp như tranh. Có bãi biển Thuận An chỉ cách trung tâm thành phố chưa tới 12km với định hướng phát triển hạ tầng giao thông theo hướng thu hẹp khoảng cách đô thị với biển. Xa hơn nữa là các bãi biển đẹp của khu vực Vinh Xuân, Vinh Thanh thuộc huyện Phú Vang. Về phía nam của tỉnh là vịnh Lăng Cô và Chân Mây, đặc biệt Lăng Cô đã được đánh giá là một trong những vịnh biển đẹp nhất thế giới (WorldBays, 2009). Đầm phá Tam Giang Cầu Hai lớn nhất Đông Nam Á, với cảnh quan tuyệt mỹ và hệ động thực vật đa dạng, độc đáo. Vườn Quốc gia Bạch Mã – nơi có cảnh quan được so sánh với chốn bồng lai, kết hợp các di tích lịch sử, thiết chế tâm linh hiện hữu, là địa điểm độc đáo để trải nghiệm và khám phá, phù hợp với nhiều loại hình du lịch khác nhau.

Thừa Thiên Huế đang gìn giữ kho tàng văn hóa phong phú, đa dạng, đặc sắc trong dòng chảy văn hóa Việt Nam. Với gần 1000 di tích bao gồm di tích lịch sử cách mạng, di tích tôn giáo, di tích lưu niệm của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Trong đó, Quần thể Di tích Cố đô Huế đã được UNESCO công nhận là Di sản văn hóa Thế giới (năm 1993).

Thừa Thiên Huế còn là nơi tập trung những di sản văn hóa phi vật thể phong phú và đa dạng, được bảo tồn, khai thác và phát huy. Từ những loại hình nghệ thuật diễn xướng cung đình bác học, nghệ thuật trang trí đến những phong tục tập quán mang đậm những nét riêng của từng vùng đất. Trong đó, Nhã nhạc cung đình triều Nguyễn được UNESCO công nhận là kiệt tác phi vật thể và truyền khẩu của nhân loại (năm 2003) và đang được tích cực gìn giữ và phát huy giá trị. Các loại hình múa hát cung đình, lễ nhạc cung đình, tuồng Huế, ca Huế, ca kịch Huế và các làn điệu dân ca, dân nhạc, dân vũ đã và đang tiếp tục được đầu tư sưu tầm, khôi phục, phát huy và phát triển.

Thừa Thiên Huế có hơn 500 lễ hội bao gồm lễ hội cung đình, lễ hội dân gian truyền thống, lễ hội tôn giáo tồn tại cùng với truyền thống văn hóa lâu đời của mỗi vùng miền. Hiện nay, có hơn 100 lễ hội dân gian, lễ hội truyền thống và hiện đại đã được các địa phương khôi phục và phát huy, bao gồm lễ hội cung đình Huế như lễ tế Đàn Nam Giao, lễ tế Đàn Xã Tắc, lễ hội thao diễn thủy binh thời chúa Nguyễn, Lễ Truyền Lô; các lễ hội văn hóa tín ngưỡng tôn giáo như lễ hội Điện Huệ Nam, lễ hội Quán Thế Âm, đại lễ Phật Đản, lễ hội tưởng nhớ các vị khai canh, thành hoàng, lễ tưởng niệm các vị tổ sư làng nghề như lễ hội Cầu ngư, Vật võ Làng Sình, vật võ Làng Thủ Lễ, Đu tiên Phong Điền, lễ hội Làng Chuồn, lễ hội đua ghe và nhiều lễ hội khác như lễ hội Đền Huyền Trân, Ngày hội Văn hóa, Thể thao, Du lịch đồng bào các dân tộc miền núi Thừa Thiên Huế. Đặc biệt, Festival Huế được định kỳ tổ chức hai năm một lần vào các năm chẵn, Festival Nghề truyền thống Huế tổ chức hai năm một lần vào các năm lẻ đã trở thành một sinh hoạt văn hóa, lễ hội ấn tượng, đặc sắc, tạo nên nét độc đáo cho vùng đất cố đô.

Nhiều làng nghề truyền thống với những sản phẩm kết tinh giá trị văn hóa của một vùng đất đã được bảo tồn, khôi phục và phát huy, tạo sự hấp dẫn khách du lịch như các làng điêu khắc Mỹ Xuyên, gốm Phước Tích, hoa giấy Thanh Tiên, tranh dân gian Làng Sình, tranh thêu cố đô, đan lát Bao La, gót Dã Lê, đúc đồng Phường Đúc, dệt Zèng A Lưới.

Thừa Thiên Huế cũng là vùng đất lưu giữ những giá trị nghệ thuật ẩm thực với gần 1.700 món ăn cung đình và dân gian độc đáo trên khoảng 3000 món ăn của cả Việt Nam, tạo nên nền “ẩm thực Huế” xứng đáng để được ghi danh di sản nhân loại. Trên cơ sở đó, tỉnh Thừa Thiên Huế đã và đang triển khai kế hoạch xây dựng thương hiệu “Huế - Kinh đô ẩm thực Việt” nhằm bảo tồn, gìn giữ và phát huy tinh hoa ẩm thực của đất cố đô. 

Lợi thế cạnh tranh của Thừa Thiên Huế gói gọn trong hai từ CƠ HỘI. Chúng tôi đã có sẵn những nguyên liệu độc đáo và quý giá đã được minh chứng và công nhận như trên để nhà đầu tư, doanh nghiệp nghiên cứu, sáng tạo, hình thành nên các dự án, sản phẩm đặc sắc đảm bảo tính cạnh tranh với tất cả các sản phẩm khác không chỉ trong khu vực. Giá trị của Thừa Thiên Huế cần bàn tay và khối óc sáng tạo của những nhà đầu tư uy tín để vươn ra với thế giới. 

Cơ sở hạ tầng giao thông hoàn thiện

Ngoài hệ thống giao thông thuận lợi, nằm trên Quốc lộ 1A, đường sắt xuyên Việt, đường cao tốc Bắc Nam dự kiến hoàn thành vào năm 2021, giao thông đối ngoại của Thừa Thiên Huế có Sân bay quốc tế Phú Bài đang được nâng cấp và đầu tư xây dựng thêm về hạ tầng, đảm bảo đón được thêm 5 triệu lượt khách mỗi năm vào năm 2020.

Ngoài ra, Thừa Thiên Huế chỉ cách sân bay quốc tế Đà Nẵng - trung tâm trung chuyển quốc tế của miền Trung Việt Nam khoảng 100km, tương đương 1,5 giờ lái xe. Hai đô thị quan trọng nhất miền Trung Việt Nam được kết nối với nhau bằng quốc lộ 1A với hệ thống hầm đường bộ hiện đại như hầm Hải Vân, Phú Gia và Phước Tượng, rút ngắn khoảng cách giữa hai đô thị.

Cảng Chân Mây đã và đang tiếp nhận tàu có trọng tải từ 30.000 đến 50.000DWT và tàu khách du lịch quốc tế lên đến 240.000 GRT của các hãng tàu biển lớn, là một đầu mối lưu thông quan trọng mang tính cửa ngõ của tỉnh để mở rộng giao lưu, hội nhập với khu vực và thế giới. Chân Mây là bến cảng tổng hợp, nhưng rất coi trọng phát triển du lịch và cũng tập trung đến lĩnh vực tàu khách. Trong 6 tháng đầu năm 2018, Cảng Chân Mây đã đón 25 chuyến tàu du lịch, tăng 20% so cùng kỳ 2017. Lượng khách du lịch đến Cảng Chân Mây cũng tăng mạnh đạt 52.817 lượt, tăng 22 % so với cùng kỳ 2017. Sự xuất hiện của thường xuyên các hãng du lịch tàu biển hạng sang tại Cảng như Royal Caribbean, Carnival Corporation & Plc, Celebrity Cruises, Viking Ocean Cruises, Princess Cruises cùng nhiều hàng tàu biển khác với các siêu phẩm du thuyền như Voyager of The Seas, Ovation of the Seas, Oasis of the Sea, Diamon Princess và các lớp tàu lớn nhất thế giới khác đến với Chân Mây đã khẳng định giá trị thương hiệu Cảng Chân Mây trên bản đồ du lịch khu vực và thế giới.

Tài nguyên

Tài nguyên đất

Thừa Thiên Huế có tổng diện tích tự nhiên là 505.399 ha, trong đó diện tích đất là 468.275 ha; hồ, ao, đầm, sông suối, núi đá là 37.124 ha. Đất đồi núi chiếm trên 3/4 tổng diện tích tự nhiên, còn đất đồng bằng duyên hải chỉ dưới 1/5 tổng diện tích tự nhiên của tỉnh.

Đất đai tại đây khá đa dạng, được hình thành từ 10 nhóm đất khác nhau. Nhóm đất đỏ vàng có diện tích lớn nhất với 347.431ha, chiếm 68,7% tổng diện tích tự nhiên. Diện tích đất bằng bao gồm đất thung lũng chỉ có 98.882 ha, chiếm 19,5% diện tích tự nhiên của tỉnh. Trong đó diện tích đất cần cải tạo bao gồm: đất cồn cát, bãi cát và đất cát biển; nhóm đất phèn ít và trung bình, mặn nhiều; nhóm đất mặn; nhóm đất phù sa úng nước, đất lầy và đất thung lũng do sản phẩm dốc tụ có đến 59.440 ha, chiếm 60% diện tích đất bằng. Diện tích đất phân bố ở địa hình dốc có 369.393 ha (kể cả đất sói mòn trơ sỏi đá).

Tài nguyên nước

Tài nguyên nước dưới đất tại Thừa Thiên Huế khá phong phú, bao gồm cả nước nhạt và nước khoáng nóng, được phân bố tương đối đều trên địa bàn toàn tỉnh. Các khu vực kéo từ các xã Phong Chương, Phong Hiền, huyện Phong Điền đến xã Quảng Lợi, huyện Quảng Điền, từ xã Phong Sơn, huyện Phong Điền đến thị trấn Tứ Hạ, huyện Hương Trà, khu vực thị trấn Phú Bài, huyện Hương Thủy là những vùng chứa nước dưới đất có triển vọng nhất cho khai thác và sử dụng của Thừa Thiên Huế.

Bảy nguồn nước khoáng nóng có thể sử dụng để uống và chữa bệnh phân bố từ vùng rừng núi, gò đồi đến đồng bằng ven biển, đã được phát hiện ở Thừa Thiên Huế. Đáng chú ý nhất trong số này là ba điểm Thanh Tân, Mỹ An và A Roàng.

Tài nguyên rừng

Phần lớn núi rừng tại Thừa Thiên Huế nằm ở phía tây. Vùng núi rừng thuộc vùng núi có độ cao từ 250m trở lên, chủ yếu phân bố ở phía Tây của tỉnh và kéo dài từ ranh giới Quảng Trị ở phía Bắc đến ranh giới tỉnh Quảng Nam về phía Nam. Địa hình phức tạp, dãy Trường Sơn Bắc thuộc núi cao trung bình và núi thấp với đỉnh cao nhất là động Ngại 1.774m. Tổng diện tích vùng núi rừng chiếm khoảng 308.825ha.

Tài nguyên khoáng sản

Đến nay, trên địa bàn Thừa Thiên Huế đã phát hiện được 120 mỏ, điểm khoáng sản với 25 loại khoáng sản, tài nguyên nước dưới đất, phân bố đều khắp. Trong đó chiếm tỷ trọng đáng kể và có giá trị kinh tế là các khoáng sản phi kim loại và nhóm vật liệu xây dựng, ngoài ra còn có nguồn sa khoáng titan với trữ lượng dự báo hơn 7 triệu tấn. Nhóm khoáng sản phi kim và nhóm vật liệu xây dựng là các nhóm có triển vọng lớn nhất của Thừa Thiên Huế, bao gồm pyrit, phosphorit, kaolin, sét, đá ốp lát, đá vôi, đá xây dựng, cát cuội sỏi. Đặc biệt, do cấu tạo địa chất, như thân quặng đá vôi chạy từ Bắc vào Nam, đến khu vực Thừa Thiên Huế là kết thúc, tạo ra một lợi thế cạnh tranh cho ngành sản xuất xi măng, mà đá vôi là nguyên liệu chính. Đa số các khoáng sản phi kim loại này đang được khai thác, phục vụ cho ngành công nghiệp khai khoáng và sản xuất vật liệu xây dựng của tỉnh. Ngoài ra, than bùn có trữ lượng gần 1,7 triệu tấn, tập trung chính ở khu vực Phong Điền và một số nơi như Phú Vang, Phú Lộc là nguồn tài nguyên được đánh giá có triển vọng phục vụ chế biến phân vi sinh.

Cùng với tiềm năng và giá trị kinh tế lớn từ nguồn sa khoáng titan, các khoáng sản nguyên liệu xi măng, vật liệu xây dựng và một số khoáng chất công nghiệp khác mang lại, cát trắng cũng đang được xem là nguồn tài nguyên khoáng sản có giá trị của địa phương, tập trung chủ yếu ở huyện Phong Điền và Phú Vang với tổng tài nguyên dự báo hơn 38,78 triệu tấn. Riêng huyện Phong Điền, tiềm năng trữ lượng cát trắng chiếm khoảng 3.800 ha. Nhóm khoáng sản nhiên liệu chủ yếu là than bùn, phân bố từ Phong Điền ở phía Bắc đến Phú Lộc ở phía Nam, với các mỏ có trữ lượng lớn (khoảng 5 triệu m3), chất lượng tốt và điều kiện khai thác thuận lợi tập trung ở khu vực xã Phong Chương, huyện Phong Điền.

Tài nguyên con người

Dân số trong độ tuổi lao động: khoảng 615.000 người (chiếm 51,25% tổng dân số).

Thừa Thiên Huế từ lâu được xem là mảnh đất giàu truyền thống hiếu học, nơi được xem là Trung tâm giáo dục lớn nhất của khu vực miền Trung và Tây nguyên. Với hệ thống giáo dục hoàn chỉnh từ bậc mầm non lên đến cao đẳng, đại học, Thừa Thiên Huế đang nỗ lực để xứng đáng là Trung tâm giáo dục của Việt Nam. Đại học Huế đã không ngừng nâng cao chất lượng giáo dục và đào tạo, tiếp tục khẳng định là nơi đào tạo và cung cấp nhân lực chất lượng cao của khu vực và cả nước. Năm 2017, Đại học Huế đã có thêm 43 nhà giáo được công nhận chức danh Giáo sư, Phó Giáo sư nâng tổng số các chức danh này toàn Đại học Huế lên 270 người, trong đó: 15 Giáo sư và 255 Phó Giáo sư. Đã thực hiện tốt công tác tuyển sinh năm học 2017 - 2018 với 12.603 sinh viên hệ đại học; hệ cao đẳng được 9.342 chỉ tiêu và trung cấp chuyên nghiệp là 4.861 chỉ tiêu.

Mảnh đất đáng sống với Trung tâm y tế hàng đầu cả nước

Hệ thống y tế và chăm sóc sức khỏe hiện đại, chuyên nghiệp bao gồm Bệnh viện Trung ương Huế, Bệnh viện quốc tế Huế, Bệnh viện Đại học y dược và hệ thống các bệnh viện, phòng khám, cơ sở y tế, trạm xá hoàn chỉnh và đồng bộ.

Bệnh viện Trung ương Huế là niềm tự hào của ngành y học Việt Nam. Bệnh viện hiện có 02 cơ sở gồm: 31 phòng, đơn vị chức năng, 100 khoa lâm sàng và cận lâm sàng, 8 Trung tâm. Các lĩnh vực mũi nhọn chuyên sâu được tổ chức thực hiện bởi một đội ngũ gần 3. 000 cán bộ, viên chức trong đó có: 01 giáo sư, 07 phó giáo sư, 35 tiến sỹ, 96 bác sỹ CKII, 250 thạc sĩ, 92 bác sỹ CKI và 95 bác sĩ. Đa số các cán bộ đều được tu nghiệp một hoặc nhiều lần tại các nước có nền y học tiên tiến như Pháp, Mỹ, Đức, Bỉ, Hà Lan, Luxembourg, Nhật, Hàn Quốc, Úc từ 6 tháng đến 3 năm. Bệnh viện đã đạt được những thành tựu to lớn trong các lĩnh vực ghép tạng: ca ghép tim trên người đầu tiên hoàn toàn do chính người Việt Nam thực hiện thành công tuyệt đối, đưa Việt Nam đứng vững trên bản đồ ghép tim thế giới; cấy tim nhân tạo bán phần, ghép khối tim phổi, ghép thận trên 500 ca, ghép tế bào gốc tạo máu tự thân điều trị ung thư vú, buồng trứng giai đoạn cuối, ghép giác mạc, phẫu thuật cắt trực tràng bằng phương pháp nội soi một lỗ và các thành tựu nổi bật khác trong lĩnh vực phẫu thuật tim mạch và tim mạch can thiệp, phẫu thuật nội soi, điều trị ung thư đa mô thức. Đã có hơn 1.000 em bé ra đời bằng phương pháp thụ tinh trong ống nghiệm. Các labo xét nghiệm sinh học phân tử và chẩn đoán hình ảnh, y học hạt nhân đều đạt được những tiếng vang trong ngành y học Việt Nam, góp phần đưa ngành y Huế vươn tầm thế giới.

 Bản in]